Pages - Menu- inbox

Hiển thị các bài đăng có nhãn kienthuc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn kienthuc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 11 tháng 11, 2013

Trang trại cà phê chồn

Cận cảnh trang trại cà phê chồn 42 tỷ đồng tại Đà Lạt

Là một luật sư nhưng ông chủ Cà phê chồn Trại Hầm dốc túi hơn 42 tỷ đồng để làm trang trại rộng gần 2,1ha, cung cấp loại đồ uống có mức giá lên tới 20 triệu đồng/kg.
alt
Cổng vào cửa hàng cà phê chồn nổi tiếng tại Đà Lạt.
alt
Ông Nguyễn Quốc Minh, chủ trang trại và hệ thống 3 cửa hàng cà phê chồn nổi tiếng tại Đà Lạt vốn là một luật sư, rất mê cà phê, đã tự bỏ túi xây trang trại rộng 2,4ha. nuôi cầy vòi hương (chồn hương) và tạo ra loại cà phê nổi tiếng đắt đỏ.


alt
Những chú chồn chỉ được nuôi bằng quả cà phê chín để phân của chúng có tỷ lệ hạt đạt chuẩn cao.
alt
Chuồng trại nuôi nhốt được đặt cách xa khu nhà hàng, được làm sạch hàng ngày vào buổi sáng.
alt
Phân chồn còn tươi được thu hoạch và làm sạch bằng nước.
alt
Nhân viên sẽ phải lọc những hạt đã được tiêu hóa đạt tiêu chuẩn, phơi khô, rang và đóng hộp.
 
alt
Chồn được huấn luyện quen người nên rất thân thiện với du khách.
alt
Hộp quà gỗ dành cho khách hàng mua 1 kg cà phê chồn có kèm máy nghiền và bình pha.
 
alt
Mỗi năm, trang trại thu hoạch khoảng 200-250kg cà phê chồn, chỉ đủ cho khách du lịch và khách quen đến thưởng thức và mua về làm quà. Một phin cà phê chồn tại quầy có giá 200.000 đồng, đủ cho 3-4 người thưởng thức.
 
alt
Tại cà phê Hầm - Đà Lạt còn có dịch vụ vẽ tranh từ cà phê. Đây là tác phẩm được họa sĩ của quán vẽ theo yêu cầu của một du khách.

Albert Einstein

Đừng cố gắng để thành công, hãy cố gắng sống có giá trị
Albert Einstein nhấn mạnh "Tôi không hề có tài năng gì cả. Tôi chỉ vô cùng tò mò". Ông còn cho biết không phải là mình quá thông minh mà do ông nghiên cứu vấn đề lâu hơn người khác mà thôi. Bên cạnh đó Einstein cho rằng trí tưởng tượng mới là tất cả, nó còn quan trọng hơn cả kiến thức.
10 điều n�n học từ Albert Einstein (1)

Quả địa cầu 500 tuổi


Món đồ cổ bí ẩn và quý hiếm bậc nhất thế giới
- Với tuổi thọ hơn 500 năm, quả địa cầu làm từ vỏ trứng đà điểu được khẳng định là quả địa cầu cổ nhất thế giới. Dựa trên mức độ tinh xảo của nó, rất có thể Leonardo da Vinci chính là người đã tạo ra món cổ vật quý giá này.
Một quả địa cầu được tạo thành từ hai mảnh vỏ trứng đà điểu vừa chính thức được công nhận là quả địa cầu cổ nhất thế giới. Đây là quả địa cầu chính xác đầu tiên bởi nó đã ghi nhận sự tồn tại của khu vực Thế giới Mới (bao gồm Châu Mỹ và Châu Úc bên cạnh Thế giới Cũ bao gồm Châu Á, Châu Âu và Châu Phi).
Tên địa danh được chạm khắc tỉ mỉ bằng chữ Latinh, các đường biên giới được thực hiện cẩn thận dựa trên những ghi chép địa lý cổ xưa của các nhà thám hiểm từ thời Christopher Columbus, quả địa cầu vỏ trứng hẳn đã được thực hiện hồi đầu thế kỷ 16. Tuy vậy, nguồn gốc thực sự của tác phẩm kỳ công, tinh xảo này vẫn còn là một bí ẩn lớn.
Nhiều nhà sử gia tin rằng quả địa cầu này có lẽ đã được thực hiện tại thành phố nghệ thuật Florence của nước Ý. Dựa trên trình độ điêu luyện của người thực hiện, rất có thể tác giả của món đồ cổ đầy tính nghệ thuật này chính là nghệ sĩ tài hoa Leonardo da Vinci.
Leonardo da Vinci đã chế tác quả địa cầu cổ nhất thế giới?
Quả địa cầu được chạm khắc trên hai mảnh vỏ trứng đà điểu. Nó được coi là quả địa cầu cổ nhất thế giới. Kiến thức địa lý ở đây tương đối hoàn chỉnh khi người thực hiện đã biết đến sự tồn tại của khu vực Thế giới Mới.
Quả địa cầu có kích thước bằng một quả cam, được ghép nên từ hai mảnh vỏ trứng đà điểu. Cho tới nay, nhiều người vẫn tin rằng quả địa cầu cổ nhất thế giới là quả địa cầu Lenox được giữ trong thư viện công cộng ở thành phố New York (Mỹ).
Tuy vậy, sau khi nghiên cứu quả địa cầu vỏ trứng, các nhà khoa học đã khẳng định đây mới là quả địa cầu lâu đời nhất thế giới kể từ sau khi các nhà địa lý phát hiện ra Châu Mỹ và Châu Úc.
Nhiều học giả cho rằng quả địa cầu Lennox đã được chế tác dựa trên quả địa cầu vỏ trứng.
Nhiều học giả cho rằng quả địa cầu Lennox đã được chế tác dựa trên quả địa cầu vỏ trứng.
Địa cầu vỏ trứng được cho là có niên đại từ năm 1504, đến nay nó đã có khoảng 509 tuổi.
Địa cầu vỏ trứng được cho là có niên đại từ năm 1504, đến nay nó đã có khoảng 509 tuổi.
Địa cầu vỏ trứng được cho là có niên đại từ năm 1504, đến nay nó đã có khoảng 509 tuổi.
Trên vỏ trứng nhỏ này có nhiều loại thuyền được chạm khắc với các hình dạng khác nhau, những con quái vật tưởng tượng, sóng biển, hình thuyền bị đắm, 71 tên địa danh được chạm khắc và một câu Latinh có nghĩa “ở đây có những chú rồng”.
Quả địa cầu vỏ trứng từng được mua từ một thương gia. Vị thương gia này đã tham gia vào hội chợ bản đồ tổ chức tại London hồi năm 2012. Khi đó, ông ta chỉ đơn thuần giới thiệu về món đồ cổ quý giá này rằng “nó nằm trong một bộ sưu tập quý ở Châu Âu”.
Một người mua hảo tâm sau khi mua thành công quả địa cầu đã đồng ý cho giới khoa họa được làm việc với nó nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu.
Địa cầu vỏ trứng được cho là có niên đại từ năm 1504, đến nay nó đã có khoảng 509 tuổi.
Quả địa cầu có kích thước bằng một quả cam. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có thể nó đã được chế tác tại thành phố nghệ thuật Florence của Ý. Dựa trên trình độ chế tác điêu luyện, rất có thể nó đã được tạo ra dưới bàn tay người nghệ sĩ tài hoa Leonardo da Vinci.
Cho đến nay, những thông tin chi tiết về xuất xứ lai lịch, ngày tháng chế tác cụ thể của món đồ cổ quý giá này vẫn chưa được tìm ra. Có thể nói đây là một trong những món đồ cổ bí ẩn và hiếm có bậc nhất hiện nay.
Theo Dailymail

Thứ Hai, 4 tháng 11, 2013

Cà chua đen

Kỳ diệu cà chua đen ngăn ngừa ung thư
TPO- Lần đầu tiên trên thế giới, cà chua đen, loại quả chứa nhiều chất giúp ngăn ngừa ung thư, được trồng tại Anh, theo Dailymail.
Giống cà chua đen lần đầu tiên được trồng tại Anh
Giống cà chua đen lần đầu tiên được trồng tại Anh.
Đây là một trong những loại quả đầu tiên trên thế giới có chứa chất anthocyanins, một chất chống oxy hóa cao giúp ngăn ngừa ung thư, tiểu đường và béo phì.
Ông Ray Brown, 66 tuổi, người điều hành công ty Thế giới hạt giống ở Newton Abbot, Devon vô cùng bất ngờ khi một khách hàng gửi cho ông một gói bí ẩn có tên “cà chua đen”.
Cà chua đen giúp ngăn ngừa ung thư, tiểu đường, béo phì
Cà chua đen giúp ngăn ngừa ung thư, tiểu đường, béo phì.
Ông đã gieo những hạt này và sửng sốt khi những quả cà chua đen dần lớn lên.
Ông Brown cho biết: “Một khách hàng gửi cho chúng tôi một ít hạt giống có ghi tên ‘cà chua đen’ vào mùa đông năm ngoái, chúng tôi không tin đó là thật nên gieo chúng vào mùa xuân để quan sát. Chúng tôi luôn luôn tìm kiếm một thứ gì đó đặc biệt. Chưa một ai có thể lai tạo được giống cà chua đen, gần đây nhất, họ mới chỉ có cà chua màu nâu và da cam”.
Vỏ đen nhưng ruột vẫn đỏ
Vỏ đen nhưng ruột vẫn đỏ.
Ông nói thêm: “Tôi cứ nghĩ đó là một điều không tưởng, một trò đùa ngày Cá Tháng Tư, nhưng khi cây lớn, chúng tôi nhận ra quả màu đen, điều đó khiến chúng tôi vô cùng kinh ngạc. Chúng hoàn toàn mới lạ, theo tôi được biết thì giống cà chua này chưa bao giờ được trồng ở Anh”.
Theo Dailymail, nhiều nguồn tin cho rằng giống cà chua này được phát triển trong dự án “Indigo Rose” tại Đại học bang Oregon, Mỹ.
Khi chín, quả cà chua chuyển dần từ màu xanh tím đến đen hoàn toàn. Tuy vỏ màu đen nhưng bên trong ruột cà chua vẫn là màu đỏ.
Cà chua đen chứa hàm lượng cao anthocyanins, hợp chất được tìm thấy trong trái cây, rau và đồ uống. Đây là một chất chống oxy hóa cao giúp ngăn ngừa ung thư, tiểu đường và béo phì.
Chính vì vậy, đây là mối quan tâm lớn của cộng đồng khoa học sau khi các thử nghiệm trong phòng thí nghiệm Mỹ phát hiện công dụng kì diệu của loại quả này.
Ông Brown có tổng cộng 3 cây cà chua đen, mỗi cây cho 20 quả. Ông chia sẻ: “Không nhiều người tin vào loại quả chúng tôi đang có. Nhiều người hoài nghi đây chỉ là trò đùa, nhiều người băn khoăn liệu nó có ăn được hay không”.
Ông mô tả: “Chúng hoàn toàn ăn được, chúng tôi đã ăn rất nhiều, hương vị rất ngon”.
Ông nói thêm rằng loại cà chua đen này rất độc đáo bởi nó không sử dụng kỹ thuật di truyền và chỉ hoàn toàn dùng kỹ thuật sàng lọc và lựa chọn.
Phan Yến
Theo Dailymail

Thứ Hai, 29 tháng 7, 2013

Bài thuốc từ các loại rau thơm .

13 loại rau thơm CHỮA BỆNH
mấy bà nội trợ nên biết . . .


Rau thơm là gia vị phù hợp cho bữa ăn. Nhưng những loại rau ấy đã góp phần không nhỏ trong việc phòng và chữa bệnh. Dưới đây là 13 loại rau thơm giúp chữa bệnh và dùng làm món ăn ngon trong bữa ăn hàng ngày của bạn.
1. Rau răm
 
Tác dụng không ngờ từ rau răm.
Còn có tên gọi là thủy liễu, hương lục... Rau răm vị cay, tính ấm, không độc, dùng để chữa đau bụng lạnh, chữa rắn cắn, chàm ghẻ, mụn trĩ, kích thích tiêu hóa, kém ăn, làm dịu tình dục. Rau răm được trồng khắp nơi và thường được mọi người dùng làm rau sống và gia vị vào canh để có thể sát trừ một số độc chất có trong hải sản (tôm, cá...). Thường khi làm thuốc, người ta dùng tươi, không qua chế biến.
2. Thì là (thìa là)
 
Thì là giúp món ăn thêm hấp dẫn.
Còn gọi là thời la, đông phong. Thì là được dùng làm gia vị vào các món ăn, nhất là các món chế biến từ cá. Trong đông y, thì là là một vị thuốc rất thông dụng. Theo Nam dược thần hiệu, hạt thì là vị cay, tính ấm, không độc, điều hòa món ăn, bổ thận, mạnh tỳ, tiêu trướng, trị đau bụng và đau răng.
3. Rau mùi Còn được gọi là ngò ta, hương tuy. Rau mùi có vị cay, tính ấm, không độc, tiêu thức ăn, trị phong tà, thông đại tiểu tiện, trị các chứng đậu, sởi khó mọc, phá mụn độc... Rau mùi được trồng phổ biến ở miền bắc và thường có trong mùa đông.
4. Mùi tàu
 
Ngày nay, mùi tàu được dùng phổ biến trong bữa ăn hàng ngày.
Còn gọi là ngò tây, ngò gai, ngò tàu. Cây mùi tàu được nhân dân ta trồng phổ biến khắp nơi, dùng để ăn sống, nấu canh và làm thuốc chữa bệnh. Mùi tàu có vị the, tính ấm, mùi thơm hắc, khử thấp nhiệt, thanh uế, mạnh tỳ vị, kích thích tiêu hóa...

5. Húng chanh

 
Húng chanh có vị nhẹ, thơm, hăng....
Còn gọi là cây rau tần. Trong dân gian thường dùng lá tươi làm rau sống trong các bữa ăn. Húng chanh vị chua the, thơm hăng, tính ấm, vào phế có công dụng giải cảm, tiêu đờm, khử độc và các chứng bệnh cảm cúm, lạnh phổi.

6.Húng quế

Theo Đông y, húng quế có vị cay, tính nóng, có mùi thơm, có tác dụng làm ra mồ hôi, lợi tiểu, giảm đau. Quả có vị ngọt và cay, tính mát, có tác dụng tốt cho thị lực. Toàn cây có tác dụng chữa cảm cúm, cảm sốt nhức đầu, nghẹt mũi, đầy bụng, kém tiêu.

7. Bạc hà (húng cây)

 
Bạc hà chữa cảm cúm rất hữu hiệu.
Bạc hà là một bài thuốc khá hữu hiệu trong việc chữa trị cảm cúm và các vết côn trùng cắn, giúp lọi tểu hóa, chữa chứng đầy hơi, thấp khớp, nấc cục, thông cổ, trị viêm xoang nhẹ… Dầu bạc hà cay có thể làm dịu cơn hen suyễn nhẹ bằng cách ngửi. Phụ nữ có mang thì nên thận trọng khi dùng vì rất có thể dẫn đến sẩy thai.
8. Sả (cỏ tranh)
 
 
Công dụng không ngờ từ cây sả.
Sả rất tốt cho hệ tiêu hóa, có tác dụng kích thích ra mồ hôi, hạ sốt ở người bệnh cảm và giúp lợi tiểu. Sả còn được dùng để điều trị chứng co thắt cơ, chuột rút, thấp khớp, đau đầu..

9. Tía tô

 
Tia tô giúp cảm cúm..
Tía tô là vị thuốc được y dược học đông phương xếp vào loại giải biểu (làm cho ra mồ hôi) thuốc nhóm phát tán phong hàn (nhóm do lạnh gây bệnh) cần chữa bằng cách cho ra mồ hôi, khỏi sốt. Không chỉ là rau gia vị thơm ngon, tía tô còn là cây thuốc được dùng phổ biến trong y học cổ truyền. Tía tô có hai loại: tía tô mép lá phẳng, màu tía nhạt, ít thơm và tía tô mép lá quăn, màu tía sẫm, mùi thơm nồng.

Tía tô có vị cay, tính ấm, có tác dụng trị cảm lạnh, đầy bụng, nôn mửa. Cành tía tô có vị cay ngọt, có tác dụng an thai, chống nôn mửa, giảm đau, hen suyễn. Ngoài ra, với giá trị dinh dưỡng cao, giàu vitamin A, C, giàu hàm lượng Ca, Fe, và P... tía tô có tác dụng đẹp da. Lương y Đinh Công Bảy - Tổng thư ký Hội Dược liệu  cho biết, tía tô tốt cho phế quản, phổi. Theo Đông y, phổi tốt sẽ giúp thần sắc tươi tắn, da hồng hào. Chính vì thế, nhiều người đã dùng tía tô như một phương thuốc làm đẹp da ít tốn kém, nhưng hiệu quả.

10. Rau diếp cá

 
Rau diếp cá làm mát máu.
Từ lâu rau diếp cá đã được y học cổ truyền dùng để chữa các bệnh về tiêu hóa, phát ban, tắc sữa… Gần đây y học hiện đại cũng phát hiện ra nhiều tác dụng quý của loại rau - cây thuốc này như: kháng khuẩn, tiêu diệt ký sinh trùng.

Cây này đã được ghi trong các sách thuốc từ cách đây hàng nghìn năm. Với giá trị làm thuốc thanh nhiệt, giải độc do làm mát huyết trong cơ thể nên trong các trường hợp bị viêm nhiễm trong cơ thể như mụn nhọt, mẩn ngứa có thể dùng rau diếp cá làm mát máu. Hoặc khi bị bệnh đường ruột, bị tiêu chảy cũng có thể dùng diếp cá.

Rau diếp cá có thể dùng để hạ sốt cho trường hợp trẻ sốt mà không muốn dùng thuốc Tây, hoặc phụ nữ có thai không dùng được Tân dược. Rau này còn có thể dùng để trị táo bón do đại tràng bị nhiệt, hay dùng chữa mụn nhọt, lở ngứa.


11. Lá lốt

 
Lá lốt thường được dùng chữa các bệnh.
Lá lốt còn có tên là tất bát, thuộc họ hồ tiêu ( Piperaceae), Lá lốt là loại cây mọc hoang và được trồng ở khắp mọi nơi.
Lá lốt có công dụng ấm trung tiêu, ấm dạ dày. Chữa nôn mửa do bị khí lạnh bụng đầy đau. Chữa nhức đầu, đau răng, mũi luôn luôn chảy nước, đại tiện lỏng ra nước, ra máu. Trong nhân dân, lá lốt thường được dùng chữa các bệnh sau: Chữa đau nhức xương khớp, Chữa bệnh phụ khoa (các viêm nhiễm ở vùng âm đạo, ngứa, ra khí hư, Chữa đổ mồ hôi nhiều ở tay chân, Chữa bệnh tổ đỉa ở bàn tay, Chữa đau rang, Chữa viêm xoang, chảy nước mũi đặc, Giải say nắng, Chữa đau bụng lạnh, đi tiêu phân lỏng, buồn nôn, nấc cụt…

12. Đinh lăng

 
Đinh lăng có nhiều tác dụng cho hệ thần kinh.
Đinh lăng có tác dụng tăng biên độ điện não, tăng tỉ lệ các song alpha, beta và giảm tỉ lệ song delta. Những biến đổi này, diễn ra ở vỏ não mạnh hơn so với ở thể lưới.Tăng khả năng tiếp nhận cả các tế bào thần kinh vỏ não với các kích thích ánh sáng. Tăng nhẹ quá trình hung phấn khi thực hiện phản xạ trong mê lộ, tăng hoạt động phản xạ có điều kiện gồm phản xạ dương tính và phản xạ phân biệt. Dưới tác dụng của cao đinh lăng, vỏ não được hoạt hóa nhẹ và có tính đồng bộ, các chức năng của hệ thần kinh về tiếp nhận và tích hợp đều tốt hơn.

13. Lá sung

 
Lá sung tính mát, vị ngọt hơi chát, có nhiều tác dụng
Sung là loại cây thường được trồng ven ao hồ để lấy bóng mát, lá dùng gói nem. Làm thuốc nên chọn những lá có nốt sần. Ta hay gọi là lá sung vá hay lá sung tật.

Lá sung tính mát, vị ngọt hơi chát, có tác dụng thông huyết, giảm đau, lợi tiểu, tiêu viêm, tiêu đờm, tiêu thũng, sát trùng, bổ huyết. Trong dân gian, lá sung thường được dùng để chữa sốt rét, tê thấp, lợi sữa.
Yến Yến/ GDVN

Thứ Năm, 16 tháng 5, 2013

NHỮNG CÁI CỔ NHẤT CỦA SAIGON XƯA

Ngôi trường cổ nhất
Trường Lê Quý Đôn được xây dựng vào năm 1874, hoàn tất năm 1877 do người Pháp quản lý. Lúc đầu trường có tên Collège Indigène (Trung học bản xứ), rồi đổi thành Collège Chasseluop Laubat. Năm 1954, trường mang tên Jean Jacques Rousseau. Năm 1967, trường được trả cho người Việt quản lý mang tên Trung tâm giáo dục Lê Quý Đôn. Từ năm 1975 đến nay, được đổi tên là trường Trung học phổ thông Lê Quý Đôn. Hơn một thế kỷ qua, trường vẫn giữ được kiến trúc ban đầu.

Cổng trường Lê Quý Đôn phía đường Hồng Thập Tự ngày trước

Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa
Cổng trường phía đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (Công Lý) hiện nay

Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa
Một góc sân trường
Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa
Học sinh THPT Lê Quý Đôn giờ tan học
Nhà máy điện xưa nhấtNhà máy điện Chợ Quán xây dựng năm 1896, máy phát điện chạy bằng hơi nước có 5 lò hơi với 150m2, cung cấp dòng điện 3 pha, công suất chưa tới 120MW. Máy phát điện chính công suất 1000A/h. Hiện nay, nhà máy đã được trang bị hiện đại với 7 máy phát điện, hòa với lưới điện quốc gia cung ứng phần quan trọng cho lưới điện thành phố. Nhà máy toạ lạc tại số 8 Bến Hàm Tử, quận 5.
Bệnh viện cổ nhất
Bệnh viện Chợ Quán xây dựng năm 1826 do một số nhà hảo tâm đóng góp, sau đó hiến cho nhà nước. Năm 1954-1957 giao cho Quân đội gọi là Viện bài lao Ngô Quyền. Cuối năm 1957, bệnh viện được trả về cho dân sự, lấy lại tên ban đầu là Bệnh Viện Chợ Quán, tiếp tục nhận điều trị các bệnh truyền nhiễm, phong, tâm thần, đồng thời tiếp nhận lại sinh viên thực tập chuyên khoa tâm thần. Hàn Quốc trợ giúp xây dựng từ 1972 đến cuối 1973 hoàn thành, đến ngày 02/3/1974, đổi thành Trung tâm Y tế Hàn Việt có 522 giường. Tháng 9/1975, mang tên Bệnh viện Chợ Quán. Đến ngày 5/9/1989
chuyển thành Trung tâm Bệnh Nhiệt đới (đến nay có tên gọi là Bệnh Viện Bệnh Nhiệt Đới, 764 Đại lộ Võ Văn Kiệt). Hiện nay có 610 Cán bộ-Công nhân viên và 550 giường bệnh.
 
 

Nhà hát cổ nhất
Nhà hát thành phố do kiến trúc sư người Pháp xây dựng hoàn tất vào ngày 17/1/1900. Các phù điêu bên trong được một họa sĩ tên tuổi ở Pháp vẽ giống như mẫu của các nhà hát ở Pháp cuối thế kỷ XIX. Nhà hát là nơi trình diễn ca nhạc kịch cho Pháp kiều xem. Năm 1956, Nhà hát được dùng làm trụ sở Hạ nghị viện chế độ cũ; tháng 5/1975 trở thành Nhà hát thành phố với 750 chỗ ngồi. Kỷ niệm 300 năm Sài Gòn toàn bộ phần kiến trúc bên ngoài Nhà hát được phục chế lại như nguyên mẫu ban đầu.
Hiện nay, nhà hát là nơi tổ chức nhiều sự kiện lớn của Sài Gòn.

Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Kiến trúc của Nhà hát lớn TP.HCM từ ảnh tư liệu


Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Nằm ngay tại trung tâm Sài Gòn, kiến trúc của Nhà hát thành phố hiện nay không có nhiều thay đổi so với ban đầu


Khách sạn cổ nhấtKhách sạn Continental tọa lạc tại 132-134 Đồng Khởi, xây dựng năm 1880 do Kiến trúc sư người Pháp thiết kế, tên khách sạn có ngay từ những ngày đầu. Sau ngày giải phóng miền Nam đổi thành Hải Âu. Đến năm 1989, khách sạn được nâng cấp, chỉnh trang và lấy lại tên cũ Continental có diện tích 3430m2, cao 3 tầng, nơi đây đã từng đón tiếp các vị tổng thống, thống đốc, nhà văn, người mẫu nổi tiếng. Ngày nay, khách sạn Continental là một trong những khách sạn đạt tiêu chuẩn quốc tế góp phần cho ngành du lịch Sài Gòn ngày càng phát triển.


Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Khách sạn cổ nhất Sài Gòn trong một tấm ảnh cũ do khách sạn Continental cung cấp


Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Khách sạn Continental nhìn từ một góc đường


Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Một phòng họp báo bên trong khách sạn

Nhà thờ cổ nhất
Nhà thờ Chợ Quán, tọa lạc tại số 20 Trần Bình Trọng, P.2, Q.5, xây dựng từ năm 1674, là nhà thờ cổ nhất tại Sài Gòn và cổ nhất ở miền Nam. Ngôi thánh đường nằm ở vị trí trung tâm, có kiến trúc kiểu phương Tây, lợp ngói đỏ, có thể chứa khoảng 1000 người. Ngoài việc sinh hoạt tôn giáo, họ đạo Chợ Quán tích cực tham gia công tác xã hội giúp đỡ người nghèo. Trải qua hơn 3 thế kỷ Nhà thờ Chợ Quán đã được trùng tu nhiều lần. Hiện nay, nơi đây có phòng khám và phát thuốc từ thiện dưới quyền quản lý của Hội Chữ thập đỏ Quận 5.
Ngôi đình cổ nhất

Một trong những ngôi đình cổ nhất của đất Gia Định xưa và xưa nhất Nam Bộ là đình Thông Tây Hội, xây dựng vào khoảng năm 1679, là chứng tích còn nguyên vẹn nhất của thời kỳ dân Ngũ Quảng kéo vào khai khẩn vùng Gò đất có nhiều cây Vắp (từ đó trở thành tên địa phương là Gò Vấp). Đình lúc đầu là của thôn Hạnh Thông – thôn khởi nguyên của Gò Vấp – sau đổi thành Thông Tây Hội (do sự sáp nhập của thôn Hạnh Thông Tây (thôn Mới) và thôn An Hội). Đình Thông Tây Hội có vị Thành Hoàng rất độc đáo. Hai vị thần thờ ở đình là hai hoàng tử con vua Lý Thái Tổ, do tranh ngôi với thái tử Vũ Đức nên bị đày đi khai hoang ở vùng cực Nam tổ quốc và trở thành “Thủy tổ khai hoang” trong lịch sử Việt Nam; hai vị thần đó là: Đông Chinh Vương và Dục Thánh Vương. Ngôi đình còn giữ được khá nguyên vẹn về quy mô và kiến trúc, kết cấu, với những chạm khắc đặc trưng Nam bộ. Đình Thông Tây Hội thuộc P.11, Gò Vấp.

Nhà văn hóa cổ nhất
Cung Văn hóa Lao Động. Năm 1866, với tên gọi Cercle Sportif Saigonnais được xây dựng làm sân thể thao của quan chức người Pháp với những hồ bơi, sân quần vợt, phòng đấu kiếm và phòng nhảy đầm. Thời VNCH sân chơi được mở rộng hơn phục vụ cho mọi giới. Tháng 11/1975, V.C đổi tên là Câu lạc bộ Lao Động, sau đổi thành Nhà văn hóa Lao Động, và rồi là Cung Văn hóa Lao Động. Diện tích 2,8ha, với 132 năm hình thành và phát triển, Cung Văn hóa Lao Động là Nhà văn hóa cổ và lớn nhất của Sài Gòn.
Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa
Cung Văn hóa Lao động thời VNCH
Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa
Mặt trước và mặt sau của Cung Văn hóa Lao động hiện nay

Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa
Hiện nay, Cung văn hóa Lao động là nơi luyện tập thể thao của nhiều bạn trẻ
Công viên lâu đời nhất
Thảo Cầm Viên do người Pháp xây dựng năm 1864, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp Louis Pierre làm giám đốc đầu tiên.
Mục đích xây dựng Thảo Cầm Viên để ươm cây giống trồng dọc các đại lộ Sài Gòn, đồng thời là nơi nuôi trồng những động thực vật vùng nhiệt đới mà các Thảo Cầm Viên của Pháp chưa có. Năm 1865, chính phủ Nhật đã hỗ trợ khoảng 900 giống cây quý như: Chizgnamat, Goyamtz, Acamatz, Coramatz, Kayanoki, Kayamaki, Enoki, Maiki, Asoumaro, Sengni, Momi, Cashi, Kiaki, Inoki… Động vật của Thảo Cầm Viên khá phong phú như: gà lôi, sếu, cu gáy, hồng hoàng, công, hưu, nai, cọp, khỉ, chồn hương, tắc kè, rùa, cọp xám, đóm đen, gà lôi xanh, chim cú lợn… Đến năm 1989, Thảo Cầm Viên được cải tạo, mở rộng và nhập thêm nhiều giống thú mới, trồng thêm cây quý. Hiện nay, có 600 đầu thú thuộc 120 loài, 1823 cây gỗ thuộc 260 loài và nhiều loại cây kiểng quý trên diện tích 21.352m2. Năm 1990, Thảo Cầm Viên là thành viên chính thức của Hiệp hội các vườn thú Đông Nam Á. Thảo Cầm Viên đã tròn 134 tuổi, số lượng động thực vật ngày càng tăng, nơi đây đã gắn bó với từng bước đi lên của thành phố và là một trong những công viên khoa học lớn nhất Đông Dương.

Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Mặt trước của Thảo Cầm Viên


Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Tượng ông Louis Pierre, giám đốc đầu tiên của Thảo Cầm Viên


Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Voi ở Thảo Cầm Viên


Những công trình cổ nhất còn lại của Sài Gòn xưa

Con đường dẫn chính dẫn vào Thảo Cầm Viên
Ngôi nhà xưa nhấtNgôi nhà có tuổi thọ lâu đời nhất còn hiện diện tại Sài Gòn nằm trong khuôn viên Tòa Tổng Giám Mục Sài Gòn - 180 Nguyễn Đình Chiểu, P.6, Q.3. Năm 1790, Vua Gia Long cho cất ngôi nhà này ở gần Rạch Thị Nghè làm nơi ở cho Linh Mục Bá Đa Lộc, và làm nơi dạy học cho Hoàng tử Cảnh. Ngôi nhà được xây dựng bên bờ sông Thị Nghè trong địa phận Thảo Cầm Viên bây giờ. Năm 1799, Bá Đa Lộc chết, ngôi nhà được giao cho linh mục khác. Từ năm 1811 đến năm 1864, ngôi nhà bị đóng cửa vì chính sách cấm đạo của triều đình Huế. Sau khi vua Tự Đức ký hòa ước với Pháp, ngôi nhà được trao lại cho Tòa Giám Mục và được di chuyển về vị trí đường Alexandre de Rhodes hiện nay. Sau đó năm 1900 ,Tòa Giám Mục được xây cất tại 180 đường Richaud (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu) thì ngôi nhà gỗ lại được dời về đây làm nhà thờ của Tòa Giám Mục. Ngôi nhà 3 gian 2 chái, lợp ngói âm dương, sườn, cột bằng gỗ, khung cửa và các khung thờ đều được chạm trỗ công phu hình hoa, lá, chim thú, hoa văn. Trong các di vật còn lại của ngôi nhà, có một di vật có giá trị lịch sử lớn, đó là đôi liễn gỗ có tám chữ triện khảm xà cừ là tám chữ vua Gia Long ban tặng giám mục Đá Ba Lộc, một bên là “Tứ Kỳ Thịnh Hy”, một bên là “Thần Chi Cách Tư”. Ngôi nhà được tu sửa vào năm 1980, cách tu sửa có tính chất vá víu, cốt giữ lại những gì có thể giữ được. Trải qua hai thế kỷ, ngôi nhà không giữ được nguyên trạng, nhưng đây là một di tích kiến trúc mang dấu ấn lịch sử, tôn giáo và văn hóa nghệ thuật. Đây là một tài sản có giá trị mà các bậc tiền nhân đã để lại cho chúng ta, không chỉ là truyền thống - bản sắc dân tộc mà còn là bộ mặt quá khứ mang tính văn hóa kiến trúc, một khía cạnh văn minh tại một vùng đất mới mọc lên từ đầm lầy, kênh rạch.
Ngôi chùa cổ nhất

Ngôi chùa có cảnh trí đẹp nhưng nằm ở địa điểm không tiện đi lại nên được ít người biết đến là chùa Huê Nghiêm, tọa lạc ở 20/8 Đặng Văn Bi, Thủ Đức. Chùa được thành lập năm 1721 do Tổ Thiệt Thùy (Tánh Tường) khai sáng. Tên chùa lấy từ tên bộ kinh Hoa Nghiêm. Đây là chùa cổ xưa nhất trong các chùa ở Sài Gòn
nên còn gọi là Huê Nghiêm Cổ Tự. Những ngày đầu là một ngôi chùa nhỏ được xây cất trên vùng đất thấp cách địa thế chùa hiện nay khoảng 100m. Sau đó, Phật tử Nguyễn Thị Hiên pháp danh Liễu Đạo hiến đất để xây lại ngôi chùa rộng rãi khang trang như hiện nay. Qua nhiều lần trùng tu vào các năm 1960, 1969, 1990 mặt tiền chùa ngày nay mang dáng vẻ kiến trúc của chùa hiện đại nhưng các gian phía trong vẫn giữ nguyên kiến trúc cổ truyền, mái gian mặt tiền được cấu trúc gồm 3 lớp, nhỏ dần về phía trên. Các đường gờ mái chạy dài xuống cuối đầu đăng đều trang trí bằng hoa văn hình cánh sen đối xứng, giữa là hình bánh xe luân pháp, đặt trên hoa sen. Mái lợp ngói ống màu đỏ, đường viền mái ngói màu xanh. Vườn chùa có nhiều cây xanh bóng mát, có 9 ngôi tháp cổ với nhiều kiểu dáng khác nhau như những cánh sen vươn lên. Những hàng cột gỗ trong chùa được khắc nổi các câu đối bằng chữ Hán màu đen kết hợp với việc chạm khắc mô típ “long ẩn vân” dùng trang trí. Chùa Huê Nghiêm là một di tích Phật giáo quan trọng, là nơi dừng chân, sống đạo và hành đạo của nhiều vị danh tăng uyên thâm Phật pháp, có đạo hạnh và có đạo đức. Chùa cũng là bằng chứng về trình độ kiến trúc và phong tục tập quán của người Việt trên vùng đất mới khai phá, mở ra nền văn minh trên vùng đất hoang sơ.
Đường sắt đầu tiên ở thành phố
Tuyến đường sắt đầu tiên ở nước ta là đoạn đừơng sắt Sài Gòn–Mỹ Tho dài 71km, xây dựng năm 1881. Ga chính trước chợ Bến Thành, văn phòng đường sắt là tòa nhà 2 tầng chiếm cả khu đất bao bọc bởi 3 đường Hàm Nghi– Huỳnh Thúc Kháng– Công Lý, nay là Xí nghiệp Liên hợp đường sắt khu vực 3. Xe lửa chạy bằng máy hơi nước phải dùng than củi đốt nồi súp-de nên xe chạy khá chậm. Vì không cạnh tranh nổi với xe đò trong việc chuyên chở hàng hóa và hành khách, đường xe lửa Sài Gòn–Mỹ Tho ngưng hoạt động từ lâu. Sau năm 1975, Ga xe lửa Sài Gòn được dời về Ga Hoà Hưng. Trên nền Ga Sài Gòn cũ ngày 8/8/1998, khởi công xây dựng Trung Tâm Văn Hoá Thương Mại Sài Gòn.
Người Việt đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp
*=D> applause*:)) laughingÔng Trương Vĩnh Ký (1837-1898). Năm 1859, Pháo hạm Pháp bắn vào cửa biển Đà Nẵng và thành cũ Gia Định, triều đình nhà Nguyễn bắt buộc chấp nhận mở cửa đất nước cho tư bản thực dân Pháp xâm nhập. Trong giai đoạn lịch sử mới, người Việt Nam từng bước tiếp xúc với ngôn ngữ và văn minh mới. Trương Vĩnh Ký là một trong những người sớm tiếp xúc và hấp thụ ngôn ngữ văn hoá phương Tây đã trở thành học giả có nhiều sáng tác nhất bằng cả tiếng Pháp và tiếng Hán–Việt. Ông là người Việt Nam đầu tiên viết sử Việt Nam bằng tiếng Pháp. Cuốn “Giáo trình lịch sử An Nam” đã được xuất bản gồm hai tập dày 462 trang. Đây thực sự là một công trình bác học biên soạn công phu dưới ánh sáng của một phương pháp luận khoa học tiến bộ so với đương thời.

Tờ báo bằng chữ Quốc Ngữ đầu tiên
Tờ “Gia Định Báo” là tờ báo chữ Quốc ngữ đầu tiên ở nước ta ra đời tháng 4/1865. Tờ báo đăng những thông tin nghị định của nhà nước và những tin kinh tế xã hội, lời bàn về thời cuộc, luân lý, lịch sử. Báo ra hằng tháng. Sau 4 năm phát hành, chính quyền thuộc địa cho phép báo
phát hành hàng tuần bằng quyết định số 51 ngày 18/3/1869. Tờ báo đầu tiên của Phụ nữ Việt Nam
Ngày 1/2/1918 tờ báo chuyên về Phụ nữ đầu tiên ra đời là tờ “Nữ Giới Chung” nhằm nâng cao trí thức, khuyến khích công nông thương, đề cao người Phụ nữ trong xã hội, chú trọng đến việc dạy đức hạnh, nữ công, phê phán những ràng buộc đối với Phụ nữ, đánh đổ mê tính dị đoan, động viên Phụ nữ quan tâm đến việc “Nữ quyền”. Muốn có vị trí ngang hàng với nam giới ngoài việc tề gia nôi trợ phải am hiểu “tình trong thế ngoài”. Chủ bút tờ báo là nữ sĩ Sương Nguyệt Anh, con gái nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu, vốn có lòng yêu nước, yêu thương đồng bào như thân phụ nên khi làm báo Bà có ý muốn làm diễn đàn để tỉnh thức lòng yêu nước trong dân chúng. Tuy chỉ tồn tại được hơn 6 tháng nhưng “Nữ Giới Chung” cũng đã gióng lên một hồi chuông nữ q
uyền còn vang mãi đến ngày nay.
Cuốn từ điển tiếng Việt đầu tiên

“Đại Nam Quốc Âm Tự Vị” là cuốn từ điển tiếng Việt quốc ngữ Latinh của Huỳnh Tịnh Của gồm hai tập: Tập I xuất bản năm 1895, tập II xuất bản 1896 tại Sài Gòn. Bộ từ điển chứa nhiều từ ngữ xưa, thành ngữ, tục ngữ, từ ngữ về thảo mộc, cầm thú của Việt Nam và của miền Nam. Bộ từ điển này trở thành Từ điển Bách khoa toàn thư đầu tiên về Nam Bộ.
Người kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên
Ông Nguyễn Trường Tộ (1828-1871) người làng Bùi Chu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Gia đình ông theo đạo Thiên Chúa, ông giỏi chữ Nho, thông hiểu Ngũ Kinh Tứ Thư, học chữ Quốc ngữ và chữ Pháp với các giáo sĩ. Ông được giám mục Gauthier đưa sang Paris năm 1858. Ông am hiểu chính trị, kinh tế, quân sự, ngoại giao, pháp luật. Năm 1861 ông trở về nước, tàu ghé Sài Gòn thì nơi đây đã đổi chủ, ông buộc phải làm phiên dịch cho người Pháp. Trong lúc ở Sài Gòn, ông đã đứng ra xây cất tu viện dòng thánh Phao lô (số 4 Tôn Đức Thắng). Đây là công trình xây dựng theo kiến trúc Châu Âu do người Việt Nam thực hiện tại Sài Gòn. Công trình được xây dựng từ tháng 9/1862 đến 18/7/1864 hoàn thành gồm nhà nguyện với ngọn tháp nổi bật trên cao xây theo kiểu Gôtic, một tu viện, một nhà nuôi trẻ mồ côi và một tháp chuông. Công trình xây dựng này là kết quả nghiên cứu kiến trúc châu Âu của Nguyễn Trường Tộ khi ông ở Hồng Kông. Qua nhiều lần sửa chữa trùng tu, ngày nay tu viện thánh Phao Lô vẫn giữ được đường nét kiến trúc xưa, chứng tỏ tài năng kiến trúc của Nguyễn Trường Tộ không thua gì các kiến trúc sư người Pháp.

Người Việt Nam đầu tiên vẽ bản đồ địa lý và đồ họa Sài Gòn theo phương pháp phương Tây
Ông Trần Văn Học, sinh quán ở Bình Dương, giỏi Quốc ngữ, Latinh và tiếng Tây Dương, được giới thiệu làm thông ngôn cho Nguyễn Ánh. Ông phụ trách việc dịch sách kỹ thuật phương Tây, đồng thời kiêm việc chế tạo hỏa xa, địa lôi và các loại binh khí. Năm 1790, Nguyễn Ánh xây thành Bát Quái. Trần Văn Học phụ trách “phác họa đường xá và phân khu phố phường”. Ông rất có tài vẽ địa đồ, họa đồ và kỹ thuật bản đồ như: tỉ lệ, trắc địa, và vẽ gần như chính xác các thành trì và công trình. Ông được coi người đầu tiên vẽ bản đồ Sài Gòn - Gia Định theo phương pháp phương Tây.